QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUỞ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUỞ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

09:50 - 10/08/2019

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ỨNG PHÓ VỚI

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUỞ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

                                                                          NCS. Tạ Văn Vĩnh

                                                                Học viện Hành chính Quốc gia

(Bài viết đăng trên Tạp chí TN&MT)  

 

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích đất lúa 4.246,6 ngàn ha và sản lượng lúa  năm là 25.244,2 ngàn tấn, chiếm tỉ lệ 56,12% cả nước; diện tích nuôi trồng thủy sản 756,3 ngàn ha, chiếm tỉ lệ 71,76% của cả nước.  ĐBSCL có vị trí đặc biệt quan trọng đối với bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, có vai trò quan trọng đối với việc phát triển KT-XH, AN-QP của cả nước. Tuy nhiên, theo kịch bản về BĐKH và nước biển dâng do Bộ TN&MT công bố năm 2012, nếu nước biển dâng lên 1 m thì khoảng 39% diện tích (gần 1,6 triệu hecta) ĐBSCL bị ngập và khoảng 35% dân số (gần 6,3 triệu dân) sẽ bị tác động trực tiếp.   

Tình hình quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long

          Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động QLNN về ứng phó với BĐKH nói chung, ĐBSCL nói riêng có ý nghĩa sống còn đối với việc an ninh lương thực, phát triển bền vững; trong những năm qua, hệ thống CSPL về ứng phó với BĐKH đã được xây dựng, hoàn thiện, tổ chức thực hiện. Chiến lược quốc gia về BĐKH đã được ban hành, tạo điều kiện cho việc định hướng các hoạt động ứng phó với BĐKH trên cả nước nói chung và tại ĐBSCL nói riêng. Tổ chức bộ máy QLNN về TN&MT nói chung và QLNN về BĐKH nói riêng tại ĐBSCL đã và đang được xây dựng, kiện toàn, việc xác định trách nhiệm gắn liền với việc đẩy mạnh phân cấp thực hiện tốt hơn, phù hợp với xu thế quản lý trong tình hình mới. Số lượng, chất lượng đội ngũ CBCC thực hiện nhiệm vụ QLNN về BBĐKH ở ĐBSCL được bố trí, sắp xếp khoa học, giảm dần tình trạng thừa, thiếu cục bộ. Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ CBCC thực thi nhiệm vụ QLNN về BĐKH ở ĐBSCL được nâng lên cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ, góp phần tích cực vào thực hiện nhiệm vụ được giao. Hoạt động ứng dụng các thành tựu, tiến bộ của KHCN vào hoạt động QLNN về ứng phó với BĐKH tại ĐBSCL cũng được chú trọng hơn, chính quyền khuyến khích việc ứng dụng các thành tựu KHCN để sản xuất các sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, tiêu ít năng lượng, nguyên liệu nhưng cho giá trị cao. Hoạt động hợp tác quốc tế về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL cũng đạt được nhiều điểm sáng tích cực. Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về BĐKH ở ĐBSCL được tổ chức thường xuyên, liên tục bảo đảm pháp luật về BĐKH được thực thi.

          Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nêu trên, hoạt động QLNN về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL còn một số hạn chế, bất cập: Việc tổ chức thực hiện CSPL, chiến lược về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL có lúc, có nơi còn chưa tốt. Tổ chức bộ máy QLNN về BĐKH còn chưa hoạt động hiệu quả, bộ máy cồng kềnh, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; nhưng khi truy trách nhiệm lại rất khó khăn, không tìm được địa chỉ cụ thể là ai và đơn vị nào phải chịu trách nhiệm khi quản lý kém hiệu quả. Số lượng và chất lượng đội ngũ CBCC thực hiện nhiệm vụ QLNN về BĐKH ở ĐBSCL chưa đáp ứng được yêu cầu, còn tình trạng CBCC kiêm nhiệm việc QLNN về BĐKH, hiệu quả thực thi công vụ chưa cao. Việc ứng dụng những thành KHCN vào hoạt động ứng phó với BĐKH còn khó khăn do nguồn kinh phí hạn hẹp, cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia của các nhà khoa học, tổ chức KHCN, doanh nghiệp và người dân còn chưa rõ nét, nên hiệu quả thu hút được nguồn lực như mong muốn. Hợp tác quốc tế về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tài nguyên nước trên sông Mê Kông và vấn đề lợi ích trong các mối quan hệ quốc tế có sự đan xem rất phức tạp, nhạy cảm. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về ứng phó với BĐKH chưa được quan tâm đúng mức, vi phạm pháp luật về BĐKH ở ĐBSCL còn diễn ra trên thực tế. Nguồn lực tài chính đầu tư cho ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL còn hạn chế nhất định.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong hoạt động QLNN về BĐKH ở đồng bằng sông Cửu Long là do: Nhận thức của các cấp, các ngành, chính quyền các địa phương trong vùng ĐBSCL về tầm quan trọng của việc ứng phó với BĐKH còn hạn chế. Hệ thống CSPL về BĐKH còn thiếu động bộ, chưa khả thi, còn có sự chồng chéo. Tổ chức bộ máy QLNN về BĐKH chưa khoa học, sự phối kết hợp trong hoạt động thực thi nhiệm vụ còn chưa như mong muốn. Nguồn lực đầu tư cho ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL còn hạn hẹp, việc xã hội hóa trong hoạt động ứng phó với  BĐKH ở ĐBSCL còn chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn. 

Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long

Thứ nhất, hệ thống pháp luật về BĐKH cần được xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện một cách hiệu quả hơn. Theo đó, việc xây dựng pháp luật về BĐKH cần phù hợp với thực tiễn của đất nước, đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới, cần sớm ban hành Luật BĐKH có tính khả thi cao, tạo căn cứ pháp lý, hành lang pháp lý để QLNN về BĐKH ở nước ta nói chung và tại ĐBSCL nói riêng được thực hiện tốt hơn. Bên cạnh đó, các nghị định và văn bản dưới luật cũng phải được xây dựng phù hợp với những quy định trong luật, tránh tình trạng luật và văn bản dưới luật chồng chéo, mâu thuẫn nhau, gây khó khăn trong việc tổ chức thực hiện. Ngoài ra, Luật Quy hoạch cũng cần được ban hành để điều chỉnh các hoạt động quy hoạch trên phạm vi toàn quốc. Thực tế cho thấy, hoạt động quy hoạch ở nước ta nói chung và tại ĐBSCL nói riêng còn nhiều hạn chế, bất cập, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ứng phó với BĐKH. Chính vì thế, Luật Quy hoạch cần được xây dựng theo hướng tích hợp các loại quy hoạch để tận dụng tối đa các nguồn lực, giảm thiểu sự lãng phí, rủi ro trong quá trình quy hoạch. Trong đó, việc quy hoạch các loại tài nguyên như đất, nước… quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cần được tính toán lỹ lưỡng nhằm chủ động ứng phó với BĐKH. 

Thứ hai, tổ chức thực hiện tốt chiến lược, chính sách về ứng phó với BĐKH. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH. Theo đó, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh được nêu cụ thể như sau: Xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Chiến lược tại địa phương; tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan được phê duyệt trong Chiến lược; chủ động huy động nguồn lực và lồng ghép các hoạt động liên quan của các chương trình khác trên địa bàn để đạt được các mục tiêu của Chiến lược; định kỳ báo cáo về tiến độ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược trên địa bàn tỉnh, thành phố theo quy định.

Thứ ba, xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN về BĐKH ở ĐBSCL. Theo đó, cần đặc tính hiệu quả của tổ chức bộ máy, phù hợp với chủ trương tinh giản bộ máy trong giai đoạn hiện nay. Cần tinh giản cần gắn với việc tổ chức, sắp xếp lại tổ chức bộ máy QLNN về BĐKH cho khoa học, phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn để có thể truy trách nhiệm cụ thể nếu để xảy ra sai phạm, tránh trùng lắp, chồng chéo trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Trong giai đoạn hiện nay, cần thiết phải thành lập Ủy ban đồng bằng Quốc gia. Cơ quan này sẽ thuộc Chính phủ hoặc Bộ TN&MT, thực hiện chuyên trách về các vấn đề liên quan đến đồng bằng ở Việt Nam. Việc thành lập Uỷ ban Đồng bằng Quốc gia cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, có sự tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm của Vương quốc Hà Lan để vừa đạt được hiệu quả như mục tiêu đặt ra, bên cạnh đó không mâu thuẫn với chủ trương tinh giản bộ máy như hiện nay.

Ngoài ra, UBND các tỉnh, thành phố trong khu vực ĐBSCL theo phân cấp cần thực hiện tốt chức năng QLNN về BĐKH, chú trọng hơn đến tính liên ngành, liên vùng, kết nối giữa các địa phương trong khu vực đồng bằng để tránh tình trạng các chính sách được thực hiện tại các địa phương trong khu vực đồng bằng có sự mâu thuẫn nhau.

Thứ tư, xây dựng, kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ CBCC thực hiện nhiệm vụ QLNN về ứng phó với BĐKH. Đội ngũ CBCC có chuyên môn, nghiệp vụ, được đào tạo bài bản, được bồi dưỡng thường xuyên về BĐKH, về QLNN về ứng phó với BĐKH, bên cạnh đó cần bố trí, sử dụng, phân công công tác hợp lý, đãi ngộ xứng đáng cho đội ngũ CBCC trực tiếp làm nhiệm vụ QLNN về ứng phó với BĐKH. Đội ngũ CBCC làm nhiệm vụ QLNN về ứng phó với BĐKH cần đảm bảo có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, thực thi công vụ một cách trách nhiệm, trung thực, minh bạch.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong QLNN về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL cần được chú trọng hơn nữa. Có cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng những thành tựu KHCN vào hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện triệt để việc không thực hiện việc cấp phép đầu tư cho các dự án không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, thậm chí trong quá trình hoạt động nếu gây ô nhiễm môi trường thì sẽ rút giấy phép hoạt động. Đẩy mạnh phát triển bền vững, quy hoạch đô thị, khu dân cư, khuyến khích tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường.

Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về ứng phó với BĐKH. Thực tế cho thấy, ứng phó với BĐKH đòi hỏi sự vào cuộc của các quốc gia trên thế giới. Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về BĐKH (COP 21) tại thủ đô Pa-ri (Cộng hòa Pháp) đã thông qua thỏa thuận lịch sử (Thỏa thuận Pa-ri), đây là kết quả của 20 năm thương lượng về ứng phó với BĐKH là một hình mẫu điển hình cho luận điểm ứng phó với BĐKH cần có sự chung tay của toàn cầu. 

Đối với ĐBSCL, cần tích cực, chủ động tham gia các chương trình hợp tác quốc tế về ứng phó với BĐK và bảo vệ môi trường. Hạn chế tối đa ảnh hưởng việc khai thác tài nguyên quá mức từ thượng nguồn sông Mê Kông làm thay đổi quy luật dòng chảy gây tác động xấu và ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của người dân vùng ĐBSCL. Việc hợp tác quốc tế về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL cần thiết thực, hiệu quả, tránh dàn trải, ưu tiên thực hiện các chương trình, dự án cấp thiết.

Chính phủ Hà Lan đã giúp Việt Nam xây dựng bản “Kế hoạch ĐBSCL  hướng đến phát triển một tầm nhìn chiến lược dài hạn cho một khu vực đồng bằng an toàn, bền vững và trù phú,bao gồm các đề xuất chính sách và các giải pháp thực hiện. Theo đó, Kế hoạch ĐBSCL là một tài liệu tham khảo cho Chính phủ Việt Nam để rà soát và có những điều chỉnh cần thiết các quy hoạch phát triển KT-XH, quy hoạch không gian và các quy hoạch ngành cho vùng ĐBSCL cũng như hướng dẫn cho việc ra quyết định, luật pháp và đầu tư cho khu vực này trong tương lai”. 

Thứ bảy, huy động, đảm bảo đầu tư tài chính cho hoạt động ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL. Đi liền với đó là việc quản lý chặt chẽ, phân bổ hợp lý nguồn tài chính, tránh dàn trải, thất thoát, lãng phí tài chính và các nguồn lực khác cho hoạt động ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL. Ưu tiên bố trí đầu tư tài chính để triển khai thực hiện những chương trình, dự án cấp thiết (chống sạt lở bờ biển, bờ sông; chống xâm nhập mặn; nâng cao năng lực cảnh báo thiên tai… ). Đồng thời cần phát huy vai trò giám sát của người dân đối với việc huy động, đảm bảo các nguồn tài chính cho hoạt động ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL.

Thứ tám, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL. Hoạt động này cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, có hiệu quả để đảm bảo việc thực thi pháp luật về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL một cách nghiêm minh, mang lại hiệu quả rõ rệt trong hoạt động QLNN về ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Chính phủ Vương quốc Hà Lan, Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội, năm 2013.
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Hà Nội, năm 2013.
  3. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 về phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Hà Nội, năm 2011.
  4. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 853/NQ-UBTVQH13 ngày 05/12/2014 về kết quả giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội, năm 2014.
  5. Website: gso.gov.vn

2500 từ

NGƯỜI VIỆT NGỦ TRƯA LÀ VÌ LƯỜI NHÁC - TÔI THẤY BỊ TỔN THƯƠNG
500 TRIỆU HAY 5 TỈ KHÔNG THỂ LÀ TIÊU CHÍ CHUẨN ĐO BẢN LĨNH ĐÀN ÔNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT SÔNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG