MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

09:51 - 10/08/2019

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

NCS. Tạ Văn Vĩnh,

Học viện Hành chính Quốc gia

(Bài viết đăng trên Tạp chí TN&MT)

 

Trong những năm qua, Nhà nước ta đã dành nhiều nguồn lực để tìm ra các giải pháp thích ứng với BĐKH. Một trong các giải pháp được các nhà khoa học và quản lý đặt ra là hoàn thiện QHSDĐ theo hướng tích hợp thích ứng BĐKH, đặc biệt là với vựa lúa của cả nước - ĐBSCL.

Tại sao quy hoạch sử dụng đất phải theo hướng tích hợp với thích ứng biến đổi khí hậu

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất, địa bàn phân bố dân cư, không gian cho các hoạt động phát triển KT-XH. Trong bối cảnh dân số ngày càng gia tăng, các hoạt động phát triển KT-XH ngày càng diễn ra mạnh, tác động bất lợi của BĐKH thì việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, bền vững nguồn tài nguyên đất đai có ý nghĩa hết sức quan trọng cả hiện tại và tương lai.

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 40.576 km², dân số hơn 17 triệu người, diện tích lúa, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, sản lượng lúa cả năm lần lượt chiếm tỉ lệ là 54,3%, 71,76% và 56,12% của cả nước. Như vậy, ĐBSCL là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, có vai trò quan trọng đối với việc phát triển KT-XH của cả nước. Tuy nhiên, hiện nay ĐBSCL đã, đang và sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng, đặc biệt là BĐKH. Theo kịch bản được cập nhật lần thứ hai về BĐKH và NBD của Việt Nam do Bộ TN&MT công bố năm 2016: Vào cuối thế kỷ, theo kịch bản RCP 4.5, nước biển dâng cao nhất ở khu vực  Cà Mau - Kiên Giang là 55 cm (33÷78 cm). Theo kịch bản RCP 8.5, mực nước biển dâng cao nhất ở khu Cà Mau - Kiên Giang là 75 cm (52÷106 cm). Nếu mực nước biển dâng 100 cm, nguy cơ ngập đối với các tỉnh  rất trầm trọng: Kiên Giang có nguy cơ ngập cao nhất (77% diện tích). Bình Thuận có nguy cơ ngập thấp nhất (0,2% diện tích). Khoảng 17,8%  diện tích TP. Hồ Chí Minh, 4,8% diện tích Bà Rịa - Vũng Tàu có nguy cơ bị ngập. Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập cao (38,9% diện tích).

Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng BĐKH đã xác định, BĐKH và NBD là xu thế tất yếu, phải sống chung và thích nghi, phải biến thách thức thành cơ hội. Nếu thực hiện tích hợp thích ứng BĐKH vào QHSDĐ của các tỉnh ĐBSCL sẽ có những tác động tích cực như: Góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai, tài nguyên nước và các nguồn TNTN quý giá khác; tạo sự chủ động trong quá trình ứng phó với BĐKH; phù hợp với xu hướng của thế giới; tạo thuận lợi cho hoạt động QLNN về đất đai; góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH của các tỉnh ĐBSCL.

Những bất cập trong hoạt động quy hoạch sử dụng đất  tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

 Đồng bằng Sông Cửu Long trong quá trình phát triển KT-XH đang phải đối mặt với nhiều thách thức do BĐKH và NBD gây ra, do các hoạt động phát triển, khai thác nguồn nước thượng nguồn sông Mê Công. Trong thời gian qua, do các nguyên nhân khách quan và chủ quan hoạt động QHSDĐ tại các tỉnh ĐBSCL có một số bất cập như sau: Khung pháp lý cho hoạt động QHSDĐ theo hướng tích hợp thích ứng BĐKH ở ĐBSCL chưa được xây dựng hoàn chỉnh; CSDL đất đai, cập nhật các kịch bản BĐKH và chất lượng dự báo phát triển KT-XH còn chưa đầy đủ; hoạt động lập, lấy ý kiến, thẩm định, quyết định, phê duyệt, điều chỉnh, công bố, tổ chức thực hiện và báo cáo thực hiện QHSDĐ của các tỉnh ĐBSCL chưa đạt được kết quả như mong muốn; quy hoạch phát triển KT-XH vùng ĐBSCL, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và của chính các địa phương chưa đồng bộ, tính khả thi chưa cao, thiếu tính liên kết toàn vùng, chưa gắn kết chặt chẽ với TP. Hồ Chí Minh, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Tiểu vùng sông Mê Công; hiệu lực, hiệu quả của tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ CBCC trên thực tế chưa đáp ứng tốt yêu cầu của giai đoạn mới; việc huy động nguồn lực tài chính khó khăn trong bối cảnh thắt chặt chi tiêu công; quy trình tích hợp thích ứng BĐKH vào QHSDĐ của các tỉnh ĐBSCL chưa được xây dựng và hướng dẫn cụ thể, chi tiết; lấy ý kiến nhân dân, các nhà khoa học, các chuyên gia dù đã có quy định tại Luật Đất đai 2013 và các văn bản dưới luật nhưng trên thực tế tại một số địa phương triển khai hoạt động này còn chậm, hiệu quả chưa cao; chất lượng hợp tác quốc tế về QHSDĐ theo hướng tích hợp thích ứng BĐKH ở ĐBSCL chưa thật sự có chiều sâu …

Một số giải pháp hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất theo hướng tích hợp thích ứng biến đổi khí hậu

Thứ nhất, rà soát, xây dựng mới, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về QHSDĐ để tạo khung pháp lý cho hoạt động QHSDĐ. Các văn bản quy phạm pháp luật cần khả thi, đồng bộ, đặc biệt trong bối cảnh Luật Quy hoạch 2017 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2019. Theo đó, lĩnh vực TN&MT có 07 luật đã được sửa đổi, bổ sung gồm: Luật Đất đai 2013; Luật BVMT 2014; Luật Khoáng sản 2010; Luật TNN năm 2012; Luật ĐDSH năm 2008; Luật KTTV năm  2015; Luật TN,MT B&HĐ năm 2015. Việc tích hợp thích ứng BĐKH vào các QHSDĐ để tối ưu hóa việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên đất đai hữu hạn, chủ động ứng phó với BĐKH đã được nghiêm túc đặt ra.

Thứ hai, hoàn thiện CSDL đất đai, cập nhật các kịch bản BĐKH và nâng cao chất lượng dự báo phát triển KT-XH. Đây là việc hết sức quan trọng để nâng cao hiệu quả QLNN về đất đai nói chung và hoàn thiện QHSDĐ nói riêng. Ngày 25/04/2017, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 05/2017/TT-BTNMT quy định về quy trình xây dựng CSDL đất đai. Theo Bộ TN&MT, CSDL đất đai do tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức xây dựng gồm: CSDL địa chính; CSDL về thống kê, kiểm kê đất đai; CSDL QH, KHSDĐ; CSDL giá đất.  CSDL đất đai do cơ quan trung ương tổ chức xây dựng gồm: CSDL thống kê, kiểm kê đất đai; CSDL QH, KHSDĐ và CSDL giá đất.

Việc cập nhật các kịch bản BĐKH và nâng cao chất lượng dự báo phát triển KT-XH khi được thực hiện tốt trong thực tế sẽ tạo thuận lợi cho việc tích hợp thích ứng BĐKH vào QHSDĐ của các tỉnh ĐBSCL, phân bổ các chỉ tiêu SDĐ, tính toán sát nhu cầu SDĐ của các địa phương, các ngành KT-XH có SDĐ của các tỉnh ĐBSCL.

Thứ ba, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của tổ chức bộ máy và kiện toàn đội ngũ CBCC thực hiện nhiệm vụ QLNN về đất đai nói chung và về QHSDĐ theo hướng tích hợp thích ứng BĐKH nói riêng theo hướng tinh gọn, tránh chồng chéo, phân cấp rõ ràng giữa trung ương và địa phương. Chất lượng đội ngũ CBCC nói chung và CBCC thực thi nhiệm vụ QHSDĐ nói riêng cần phải được đặc biệt chú trọng cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC thực hiện nhiệm vụ QHSDĐ cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải phải về khung pháp lý, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng, đề bạt bổ nhiểm, có chính sách tạo động lực làm việc cho đội ngũ CBCC về QHSDĐ đồng thời phải có chế tài giám sát việc lợi dụng các lỗ hổng của pháp luật đất đai trong việc lập, thẩm định, xét duyệt, phê duyệt, điều chỉnh, công bố và thực hiện QHSDĐ.

Trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta chính thức đề cập đến việc tích hợp thích ứng BĐKH vào QHSDĐ thì vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC các cấp từ Trung ương đến địa phương càng trở lên bức thiết hơn vì việc tích hợp thích ứng BĐKH vào các QHSDĐ là vấn đề khó khăn, phức tạp, nhạy cảm và chưa có tiền lệ. Điều này đòi hỏi đội ngũ CBCC phải nhận thức rõ những tác động theo hai chiều thuận và nghịch của BĐKH đối với khai thác, sử dụng tài nguyên đất đai và nâng cao trình độ nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cấp bách lập, lấy ý kiến, thẩm định, quyết định, phê duyệt, điều chỉnh, công bố, tổ chức thực hiện và báo cáo thực hiện quy hoạch trong thực tế.

Thứ tư, huy động nguồn lực tài chính để lập, lấy ý kiến, thẩm định, quyết định, phê duyệt, điều chỉnh, công bố, tổ chức thực hiện và báo cáo thực hiện quy hoạch… cần được bảo đảm, được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, tránh.

Thứ năm, xây dựng quy trình tích hợp thích ứng BĐKH vào QHSDĐ của các tỉnh ĐBSCL. Theo Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam cho thấy việc tích hợp  BĐKH vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trải qua 06 bước như sau: Chuẩn bị cho lồng ghép thông qua tăng cường năng lực, thể chế và các nguồn lực; sàng lọc rủi ro khí hậu, đánh giá tính dễ bị tổn thương/đánh giá tiềm năng giảm nhẹ BĐKH; lựa chọn các biện pháp thích ứng/giảm nhẹ; lồng ghép các biện pháp ứng phó vào trong chính sách; thực hiện chính sách; giám sát và đánh giá.

Thứ sáu, rà soát các quy hoạch hiện có tại các tỉnh ĐBSCL. Hoạt động này có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh Luật Quy hoạch 2017 sẽ có hiệu lực thi hành trong thời gian tới (từ ngày 01/01/2019), việc rà soát hệ thống các quy hoạch hiện tại sẽ giúp loại bỏ được tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong một số quy hoạch. Cần nhấn mạnh thêm rằng, việc QHSDĐ của các tỉnh ĐBSCL theo hướng tích hợp thích ứng BĐKH cần đặc biệt chú ý đến nguồn tài nguyên nước và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch sử dụng tài nguyên nước của các tỉnh trong vùng.

Thứ bảy, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về tích hợp thích ứng BĐKH vào QHSDĐ và vận dụng sáng tạo, linh hoạt theo điều kiện cụ thể của nước ta. Các quốc gia và các tổ chức quốc tế như Vương quốc Hà Lan, Cộng hòa Pháp, FAO (Tổ chức Nông-Lương Liên Hợp Quốc), UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc), WB (Ngân hàng Thế giới), UNEP (Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc)… đều có những kinh nghiệm, những khuyến nghị có giá trị tham khảo cho Việt Nam về QHSDĐ theo hướng tích hợp thích ứng BĐKH.

Thứ tám, nâng cao hiệu quả lấy ý kiến của nhân dân, các nhà khoa học, các chuyên gia am hiểu về QHSDĐ đóng góp ý kiến, kiến nghị về hoạt động QHSDĐ. Đây là giải pháp hết sức quan trọng để tập hợp, phát huy trí tuệ của nhân dân, của các chuyên gia, các nhà khoa học trong quá trình QHSDĐ theo hướng tích hợp thích ứng với BĐKH ở ĐBSCL. Các cơ quan có thẩm quyền cần cầu thị, tiếp thu, lắng nghe các ý kiến đóng góp của nhân dân, các nhà khoa học, các chuyên gia kể cả là những ý kiến trái chiều; các văn bản pháp luật về hoạt động QHSDĐ theo hướng tích hợp thích ứng BĐKH ở ĐBSCL cần phải được diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu, tạo thuận lợi tối đa cho nhân dân, các chuyên gia và các nhà khoa học đóng góp ý kiến.   

Thứ chín, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai nói chung và QHSDĐ theo hướng tích hợp thích ứng với BĐKH ở ĐBSCL nói riêng. Bản chất của hoạt động này là nhằm bảo đảm pháp luật về đất đai nói chung, về QHSDĐ nói riêng được thực hiện nghiêm trong thực tiễn. Việc thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập để khắc phục, xử lý. Việc giám sát cần đề cao vai trò của nhân dân, của HĐND các cấp và của các cơ quan thông tấn báo chí. Ngoài ra, nếu phát hiện các vi phạm trong hoạt động QHSDĐ cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

2400 từ

NGƯỜI VIỆT NGỦ TRƯA LÀ VÌ LƯỜI NHÁC - TÔI THẤY BỊ TỔN THƯƠNG
500 TRIỆU HAY 5 TỈ KHÔNG THỂ LÀ TIÊU CHÍ CHUẨN ĐO BẢN LĨNH ĐÀN ÔNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT SÔNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUỞ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG