MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT SÔNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT SÔNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

09:49 - 10/08/2019

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT SÔNG CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

 

 

Tạ Văn Vĩnh

Học viện Hành chính Quốc gia

Bài viết đăng trên Tạp chí TN&MT

 

Sông Cầu là một nhánh sông quan trọng của hệ thống sông Thái Bình, cung cấp nước cho các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt cho 6 tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Dương. Thái Nguyên là tỉnh gần như nằm trọn trong lưu vực sông Cầu. Theo số liệu quan trắc nhiều năm gần đây, đoạn sông Cầu chảy qua TP. Thái Nguyên bị ô nhiễm nặng do các nguồn nước thải công nghiệp, sinh hoạt cũng như chất thải từ các hoạt động dọc hai bờ sông.

Thực trạng ô nhiễm môi trường

Chất lượng nước sông Cầu tuy đã được cải thiện nhưng tại một số khu vực, chưa đảm bảo sử dụng cho cấp nước sinh hoạt (không đạt tiêu chuẩn giá trị A2 của QCVN 08:2008/BTNMT). Thậm chí trên nhiều suối, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, không đạt giá trị tiêu chuẩn B2 của QCVN 08:2008/BTNMT, như: suối Cốc, suối Xương Rồng, suối Cam Giá, suối Phượng Hoàng, suối La Cấm, suối Văn Dương, suối Phục Linh, suối Loàng, suối Mỏ Bạch.

Hàm lượng oxi hòa tan trên sông Cầu dao động khoảng từ 4,5 đến 7,4 mg/l. Hầu hết các thông số đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08: 2008 loại B1. Tuy nhiên, tại điểm Trà Vườn do chịu tác động của nước thải công nghiệp do hoạt động sản xuất gang thép nên hàm lượng oxi hòa tan đạt thấp. Hàm lượng BOD5 tại Sông Cầu đều đạt qui chuẩn cho phép theo QCVN 08: 2008 loại B1.

Giá trị Amoni tại các điểm trên sông Cầu dao động từ 0,1 đến 3,36 mg/l. Tại xã Văn Lăng (huyện Đồng Hỷ) có giá trị tăng cao đột biến là 3,36 mg/l tức là gấp 6,7 lần so với QCVN 08: 2008 loại B1. Nguyên nhân là do ảnh hưởng của nguồn nước thải sinh hoạt chưa qua xử lí từ thị trấn Chợ Chu thải ra.

Sông Cầu đã và đang bị ô nhiềm dầu mỡ, tổng dầu mỡ dao động từ <0,1 đến 9,5 mg/l, giá trị quan trắc vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép. Giá trị Caliform trên Sông Cầu tương đối cao, đặc biệt là tại điểm Trà Vườn (625.000 MPN)/100 ml.  Nguyên nhân là do tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt của thành phố Thái Nguyên và nước thải công nghiệp xử lí chưa triệt để của nhà máy gang thép Thái Nguyên. Giá trị Fe (sắt) dao động từ 0,04 đến 7,4 mg/l là chỉ dấu cho thấy nước sông Cầu đang bị ô nhiễm sắt.

Trước khi chảy vào thành phố Thái Nguyên, sông Cầu bị ô nhiễm do công nghiệp, hoạt động khai thác khoáng sản, sản xuất nông nghiệp (lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật). Đoạn chảy qua TP. Thái Nguyên bị ô nhiễm nghiêm trọng, chứa nhiều hợp chất hữu cơ và dầu mỡ. Tại khu vực phường Tân Long nước rất đục, có mùi hôi và màu đen. Đoạn sông Cầu chảy qua khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên có các thông số SS, BOD5, COD vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép, nước sông có mùi hôi rõ rệt.

Tình trạng khai thác, chặt phá rừng đầu nguồn, đặc biệt tại các huyện Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ diễn biến phức tạp, tình trạng khai thác cát sỏi lòng sông trái phép vẫn diễn ra ở một số nơi. Mức đầu tư cho công tác BVMT của các doanh nghiệp còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu xử lý triệt để ô nhiễm, không thường xuyên duy trì vận hành hệ thống xử lý chất thải, xả chất ô nhiễm ra môi trường, điển hình là các trang trại chăn nuôi, các cơ sở sản xuất công nghiệp.

Công tác QLNN về BVMT nói chung và BVMT nước mặt sông Cầu nói riêng đã được tỉnh quan tâm hơn trước, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế: Hệ thống văn bản về BVMT nước mặt sông Cầu chưa hoàn hiện; đầu tư nguồn lực cho công tác này còn khiêm tốn; thiếu cán bộ làm công tác môi trường so với yêu cầu, các ngành chưa có cán bộ hoặc giao bộ phận chuyên trách hoặc kiêm nhiệm công tác môi trường, ở cấp xã chưa có cán bộ môi trường, các doanh nghiệp chưa bố trí cán bộ chuyên môn môi trường; lực lượng thanh, kiểm tra còn mỏng nên chưa kịp thời kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật về BVMT; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ môi trường và hợp tác quốc tế trong BVMT nước Sông Cầu còn nhiều hạn chế, kết quả chưa như mong muốn.

Những hạn chế trong công tác BVMT nước mặt sông Cầu nêu trên do nhiều nguyên nhân:

Thứ nhất, nhận thức của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh về tầm quan trọng của công tác BVMT nói chung và BVMT nước mặt sông Cầu nói riêng còn chưa tốt dẫn đến coi nhẹ công tác này trong hành động thực tiễn mà chỉ chú tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế. Ý thức chấp hành pháp luật BVMT của một số cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh chưa cao, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh có thiết bị và công nghệ sản xuất lạc hậu, xả thải trực tiếp ra sông Cầu chưa quan xử lí.

Thứ hai, việc phối kết hợp giữa Thái Nguyên với các tỉnh thuộc Lưu vực sông Cầu còn hạn chế, mờ nhạt, chưa phát huy được thế mạnh của các tỉnh trong BVMT nước mặt sông Cầu. 

Thứ ba, mặc dù đầu tư tài chính cho công tác BVMT trong thời gian qua đã được tăng cường, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu BVMT trong tình hình mới của tỉnh. Kinh phí sự nghiệp môi trường cho cấp huyện chưa đủ, thậm chí chi sai mục đích. Chậm triển khai các dự án BVMT như: dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên, dự án xử lý nước thải KCN Sông Công, dự án xây dựng bãi chôn lấp của một số huyện; một số khu vực ô nhiễm nghiêm trọng chưa được xử lý dứt điểm.

Một số giải pháp trong giai đoạn hiện nay

Một là, cần tăng cường thực hiện pháp luật, chính sách về BVMT nói chung và BVMT nước mặt sông Cầu nói riêng. Tăng cường thực thi pháp luật về BVMT, Luật Tài nguyên nước…phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trung ương và các địa phương trong lưu vực sông Cầu trong việc thực thi pháp luật, chính sách về BVMT nước mặt sông Cầu. Phát huy vai trò của Uỷ ban Bảo vệ sông Cầu trong xây dựng qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Xây dựng, ban hành qui hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên nước và hệ thống xả thải của tỉnh đồng bộ, khả thi.

Rà soát, xây dựng và ban hành các văn bản cụ thể hoá các quy định pháp luật về BVMT cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh. Đặc biệt, quan tâm xử lí các nguồn thải, kiểm soát chặt chẽ các khu vực ô nhiễm môi trường nước mặt nghiêm trọng, đoạn từ Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đến cầu Trà Vườn, suối Phượng Hoàng. Hạn chế đến mức thấp nhất việc cấp phép đầu tư hai loại hình công nghiệp là khai thác khoáng sản, sản xuất bột giấy, khai thác cát trên sông. Khuyến khích xây dựng các mô hình và nhân rộng các cơ sở sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường, tạo ra các sản phẩm sạch.

Hai là, hoàn thiện tổ chức bộ máy, tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công tác BVMT nước mặt sông Cầu. Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án Tổng thể sông Cầu; tăng cường chỉ đạo UBND các cấp, các ngành thực hiện nhiệm vụ BVMT thuộc lĩnh vực quản lý của địa phương, ngành.

Phân công nhiệm vụ BVMT cho các ngành, các cấp theo chức năng, địa bàn quản lý, tránh chồng chéo dẫn đến khó qui trách nhiệm khi cần. Nhanh chóng bố trí cán bộ chuyên trách, hoặc kiêm nhiệm thực hiện công tác BVMT thuộc lĩnh vực quản lý ở các ngành tuỳ theo tính chất và yêu cầu của nhiệm vụ. Đặc biệt, cần tăng cường cán bộ chuyên trách về môi trường cho các xã, phường có các vấn đề môi trường bức xúc. Lực lượng cán bộ, công chức này cần phải được đào tạo, bồi dưỡng, có kiến thức về BVMT.

Ba là, tăng cường quan trắc môi trường nước mặt sông Cầu để nắm rõ chất lượng nước sông Cầu và kịp thời phát hiện những biểu hiện bất thường về chất lượng nước sông. Cần xây dựng dữ liệu thông tin môi trường nước mặt sông Cầu để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, quản lí môi trường.

Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức BVMT. Công tác giáo dục, tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, tránh bệnh hình thức. Đổi mới và đa dạng hoá hình thức, nội dung tổ chức các hoạt động truyền thông, hướng tới nhiều đối tượng với các nội dung truyền thông phù hợp.  Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện “Kế hoạch truyền thông nâng cao nhận thức BVMT giai đoạn 2011 – 2015” của tỉnh.

Xây dựng mạng lưới, đội ngũ tuyên truyền viên về BVMT đến cấp cơ sở. Đây là nội dung hết sức đáng chú ý vì cấp cơ sở là cấp gần người dân nhất, dễ có sự mâu thuẫn về lợi ích, cũng là cấp ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của công tác BVMT nói chung và BVMT nước mặt sông Cầu nói riêng. 

Năm là, đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong BVMT nước mặt sông Cầu. Việc áp dụng công cụ kinh tế trong BVMT nước mặt sông Cầu cần được triển khai triệt để, đây là công cụ tác động đến chi phí, lợi ích kinh tế của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nên họ sẽ phải nghiêm túc xem xét các biện pháp để đảm bảo môi trường trong quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh. Tiến tới thực hiện phương châm “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.

Sáu là, đa dạng hoá nguồn lực đầu tư, đẩy mạnh xã hội hoá công tác BVMT,  tăng cường kinh phí đầu tư cho công tác BVMT.  Sử dụng kinh phí này hiệu quả, tiết kiệm. Ưu tiên bố trí kinh phí cho các dự án xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước mặt sông Cầu. Thu hút các nguồn lực BVMT trong và ngoài nước để giảm áp lực cho ngân sách nhà nước nhưng vai trò của nhà nước vẫn là chủ đạo. Thực hiện tốt công tác thu phí BVMT, tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính của Quỹ BVMT.  Đa dạng hoá các loại mô hình hoạt động BVMT, khuyến khích các tổ chức cá nhân, cộng đồng tham gia BVMT, thành lập các mô hình tự quản môi trường ở các vùng nông thôn do hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh…quản lí theo phương châm “Dân biết, Dân làm, Dân bàn, dân kiểm tra”.

Bảy là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao ứng dụng công nghệ về BVMT nước mặt sông Cầu. Các nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cần hướng tới việc tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi trường, xử lí nước thải ngay tại nguồn trước khi xả ra sông Cầu, cải thiện qui trình sản xuất, tiêu hao ít nhiên liệu hơn, giá trị kinh tế, hàm lượng kĩ thuật trong các sản phẩm cao hơn. Các làng nghề sản xuất chè cũng cần thay đổi qui trình sản xuất theo hướng sản xuất sạch, bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng qui trình.

Tám là, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT nước mặt sông Cầu. Hàng năm rà soát và xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật BVMT nước đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT nước mặt sông Cầu, đặc biệt là các vi phạm trong việc xả nước thải chưa qua xử lí ra môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, khai thác cát trên sông. Xử lí dứt điểm, triệt để các cá nhân tiến hành khai thác vàng, cát trái phép trên sông Cầu.

 Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn, vai trò của lực lượng kiểm lâm và người dân cần được phát huy để giữ được rừng sẽ góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và BVMT nước mặt sông Cầu.

Chín là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BVMT nước mặt sông Cầu tranh thủ sự giúp đỡ về tài chính, kĩ thuật, kinh nghiệm của các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ. Việc sử dụng nguồn tài chính này cần đảm bảo công khai, minh bạch, đúng mục đích, tránh thất thoát, lãng phí, góp phần vào sự nghiệp BVMT của tỉnh nói chung và BVMT nước mặt sông Cầu nói riêng. 

 

Tài liệu tham khảo

  1. Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ quan trắc môi trường nước lưu vực sông Cầu năm 2010, Tổng cục Môi trường, Hà Nội, 2010
  2. Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015
  3. Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 định hướng đến năm 2020

 

2470 từ

 

 

NGƯỜI VIỆT NGỦ TRƯA LÀ VÌ LƯỜI NHÁC - TÔI THẤY BỊ TỔN THƯƠNG
500 TRIỆU HAY 5 TỈ KHÔNG THỂ LÀ TIÊU CHÍ CHUẨN ĐO BẢN LĨNH ĐÀN ÔNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUỞ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG TÍCH HỢP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG